THÔNG TIN TỔNG QUÁT |
|
 |
|
 |
|
 |
|
 |
|
 |
|
THÔNG TIN NHANH |
|
 |
|
 |
|
 |
|
 |
|
 |
|
 |
|
 |
|
|
 |
|
 |
|
 |
|
 |
|
 |
|
 |
|
 |
|
 |
LOGO VÀ THƯƠNG HIỆU | |
|
| |
| |
|
|
| | |
 |
| |
| » Trang
chủ »
Giới thiệu |
 |
 |
|
|
Văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa AP Group:
Trải qua quá tŕnh h́nh thành và phát triển, AP
Group xác định văn hóa doanh
nghiệp là một yếu tố
then chốt tạo nên sự thành công của ḿnh. Vươn
tới một tổ chức năng động, sáng tạo, không ngừng
học tập, nghiên cứu, các thành viên của AP Group
nỗ lực vượt qua những thử thách với mong muốn
tạo ra các giá trị cơ bản bền vững cho bản thân,
cho doanh nghiệp và cộng đồng.
Một số mốc thời gian tạo nên giá trị văn
hóa doanh nghiệp:
•
Ngày 20/07: Là ngày quan trọng nhất của Công ty,
được tổ chức để kỷ niệm ngày thành lập
(20/07/2000).
•
Cuối tháng 07, đầu tháng 08: Ngày giao lưu. Công
ty thường tổ chức đi thăm quan, nghỉ mát vào
thời gian này cho các thành viên.
•
Ngày 10/10: ngày truyền thống ngành xuất bản
•
Ngày 24/12: ngày kỷ niệm hoạt động truyền thông
Ngoài ra, ngày sinh nhật của các thành viên, các
buổi giao lưu văn nghệ, thể thao được tổ chức
nhằm gắn kết các thành viên trong công ty và góp
phần tạo nên một nét văn hóa của doanh nghiệp.
|
Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp:
Hiện nay đă có nhiều phát biểu cụ thể khác nhau
về văn hóa doanh nghiệp từ các nhà nghiên cứu và
các nhà kinh doanh:
-"Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị,
các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều
cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo
thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp"(Georges
de saite marie, chuyên gia tư vấn và nghiên cứư về các doanh
nghiệp vừa và nhỏ)
-"Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp những quan
niệm chung mà các thành viên trong doanh nghiệp
học được trong quá tŕnh giải quyết các vấn đề
nội bộ và xử lư các vấn đề với môi trường xung
quanh" (Edgar Schein, chuyên gia nghiên cứu các
tổ chức)
Theo Wikipedia |
Văn hóa doanh nghiệp, yếu tố
vàng của thành công
Văn hoá
doanh nghiệp chính là tài sản vô h́nh của mỗi doanh nghiệp. Cùng với sự phát
triển của nền kinh tế thị trường th́ việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp là
một việc làm hết sức cần thiết nhưng cũng không ít khó khăn.
1/
Hiểu thế nào về văn hoá doanh nghiệp?
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá. Theo E.Heriôt th́ “Cái ǵ c̣n
lại khi tất cả những cái khác bị quên đi - cái đó là văn hoá”. C̣n UNESCO
lại có một định nghĩa khác về văn hoá: “Văn hoá phản ánh và thể hiện một
cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và của mỗi
cộng đồng) đă diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại,
qua hàng bao nhiêu thế kỷ nó đă cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền
thống, thẩm mỹ và lối sống và dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc
riêng của ḿnh”.
Vậy văn hoá doanh nghiệp là ǵ? Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị
văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá tŕnh tồn tại và phát triển của một
doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống
ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối t́nh cảm, nếp suy nghĩ
và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực
hiện các mục đích.
Cũng như văn hoá nói chung, văn hoá doanh nghiệp có những đặc trưng cụ thể
riêng biệt. Trước hết, văn hoá doanh nghiệp là sản phẩm của những người cùng
làm trong một doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu giá trị bền vững. Nó xác lập
một hệ thống các giá trị được mọi người làm trong doanh nghiệp chia sẻ, chấp
nhận, đề cao và ứng xử theo các giá trị đó. Văn hoá doanh nghiệp c̣n góp
phần tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và được coi là truyền thống
của riêng mỗi doanh nghiệp.
2/ Văn hoá doanh nghiệp tại Nhật
Tại Mỹ, các nhà nghiên cứu đă t́m hiểu mối quan hệ giữa hoạt động của doanh
nghiệp, thành tựu của doanh nghiệp và nội dung văn hóa của doanh nghiệp đó.
Họ nhận thấy rằng hầu hết các công ty thành công đều duy tŕ, ǵn giữ nền
văn hóa doanh nghiệp của ḿnh. Có sự khác biệt giữa các nền văn hóa trong
các công ty. Mỗi nền văn hóa khác nhau có thể đưa ra một hệ thống văn hóa
doanh nghiệp khác nhau. Theo ông A. Urata, văn hóa truyền thống của Nhật
Bản, do hoàn cảnh sau chiến tranh thế giới đă tạo ra những nét đặc trưng. Đó
là những người lao động Nhật Bản thường làm việc suốt đời cho một công ty,
công sở. Họ được xếp hạng theo bề dày công tác. Trong các công ty của Nhật
Bản đều có tổ chức công đoàn. Các quyết định sẽ được ra theo quyết định của
tập thể và các hoạt động đặc trưng đó có tên là Kaizen.
Văn hóa doanh nghiệp kiểu Nhật đă tạo cho công ty một không khí làm việc như
trong một gia đ́nh, các thành viên gắn bó với nhau chặt chẽ. Lănh đạo của
công ty luôn quan tâm đến các thành viên. Thậm chí ngay cả trong những
chuyện riêng tư của họ như cưới xin, ma chay, ốm đau, sinh con... cũng đều
được lănh đạo thăm hỏi chu đáo. V́ làm việc suốt đời cho công ty nên công
nhân và người lao động sẽ được tạo điều kiện để học hỏi và đào tạo từ nguồn
vốn của công ty. Nâng cao năng suất, chất lượng và đào tạo con người được
coi là hai đặc trưng cơ bản của văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản.
Có một sự khác bịêt cơ bản trong tư duy của người Nhật về doanh nghiệp. Tại
Mỹ và phương Tây, quyền lực cao nhất trong việc quyết định số phận của một
doanh nghiệp là các cổ đông. Người quản lư doanh nghiệp và vốn của doanh
nghiệp tách hẳn nhau. Cổ đông yêu cầu nhà quản lư phải nâng cao lợi nhuận
của doanh nghiệp trong một thời gian ngắn. Chỉ số cổ tức là thước đo năng
lực của nhà quản lư. Tuy nhiên, người Nhật lại quan niệm rằng doanh nghiệp
tồn tại như một hoạt động mang tính đạo đức. Mọi người trong công ty phải
kết nối với nhau trong mối quan hệ chung. Doanh nghiệp là một chủ thể thống
nhất. Người Nhật quan tâm đến lợi ích doanh nghiệp và người làm trong doanh
nghiệp, thay v́ chỉ quan tâm đến lợi nhuận như ở phương Tây. Do đó, tại một
doanh nghiệp Nhật Bản, người lănh đạo phải lo nâng cao đời sống cho người
lao động và điều này ảnh hưởng lớn đến chiến lược phát triển của doanh
nghiệp. Nó cũng liên quan mật thiết đến việc nâng cao chất lượng và năng
suất lao động. Sự thống nhất giữa doanh nghiệp và người làm trong doanh
nghiệp đă tạo cho mọi thành viên sự trung thành cao. Tất cả đều quan tâm đến
sự sống c̣n của doanh nghiệp, do đó dẫn đến sự tăng trưởng cao.
3/ Thực trạng văn hoá doanh nghiệp ở Việt Nam
Nh́n nhận một cách tổng quát, chúng ta thấy văn hoá trong các cơ quan và
doanh nghiệp ở nước ta c̣n có những hạn chế nhất định: Đó là một nền văn hoá
được xây dựng trên nền tảng dân trí thấp và phức tạp do những yếu tố khác
ảnh hưởng tới; môi trường làm việc có nhiều bất cập dẫn tới có cái nh́n ngắn
hạn; chưa có quan niệm đúng đắn về cạnh tranh và hợp tác, làm việc chưa có
tính chuyên nghiệp; c̣n bị ảnh hưởng bởi các khuynh hướng cực đoan của nền
kinh tế bao cấp; chưa có sự giao thoa giữa các quan điểm đào tạo cán bộ quản
lư do nguồn gốc đào tạo; chưa có cơ chế dùng người, có sự bất cập trong giáo
dục đào tạo nên chất lượng chưa cao. Mặt khác văn hoá doanh nghiệp c̣n bị
những yếu tố khác ảnh hưởng tới như: Nền sản xuất nông nghiệp nghèo nàn và
ảnh hưởng của tàn dư đế quốc, phong kiến.
Văn hoá doanh nghiệp có vị trí và vai tṛ rất quan trọng trong sự phát triển
của mỗi doanh nghiệp, bởi bất kỳ một doanh nghiệp nào nếu thiếu đi yếu tố
văn hoá, ngôn ngữ, tư liệu, thông tin nói chung được gọi là tri thức th́
doanh nghiệp đó khó có thể đứng vững và tồn tại được. Trong khuynh hướng xă
hội ngày nay th́ các nguồn lực của một doanh nghiệp là con người mà văn hoá
doanh nghiệp là cái liên kết và nhân lên nhiều lần các giá trị của từng
nguồn lực riêng lẻ. Do vậy, có thể khẳng định văn hoá doanh nghiệp là tài
sản vô h́nh của mỗi doanh nghiệp. Theo ông Trần Hoàng Bảo (1 trong số 300
nhà doanh nghiệp trẻ) nhận xét: Văn hoá của doanh nghiệp được thể hiện ở
phong cách lănh đạo của người lănh đạo và tác phong làm việc của nhân viên.
Cũng theo ông Bảo, đối tác khi quan hệ th́ ngoài việc quan tâm tới lợi nhuận
của công ty họ c̣n đánh giá doanh nghiệp qua văn hoá của doanh nghiệp đó.
Sự thành công của mỗi doanh nghiệp, đặc biệt là ở các nước châu
Á thường
được dựa trên mối quan hệ cá nhân của người lănh đạo, c̣n các nước Tây Âu
th́ thành công của doanh nghiệp lại được dựa trên các yếu tố như khả năng
quản lư các nguồn lực, năng suất làm việc, tính năng động của nhân viên…
Ngoài những yếu tố chủ quan, để xây dựng văn hoá doanh nghiệp c̣n phải chú
trọng tới những yếu tố khách quan. Đó là việc tạo lập thị trường, lợi ích
của người tiêu dùng, được thể hiện qua “Các nguyên tắc chỉ đạo để bảo vệ
người tiêu dùng”, là quá tŕnh hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
4/ Xây dựng văn hoá doanh nghiệp trên cơ sở nào?
Trước hết chúng ta phải có quan điểm cụ thể về vai tṛ của văn hoá doanh
nghiệp. Sự thắng thế của bất cứ một doanh nghiệp nào không phải ở chỗ là có
bao nhiêu vốn và sử dụng công nghệ ǵ mà nó được quyết định bởi việc tổ chức
những con người như thế nào. Con người ta có thể đi lên từ tay không về vốn
nhưng không bao giờ từ tay không về văn hoá. Văn hoá chỉ có nền tảng chứ
không có điểm mốc đầu cuối. Do vậy, xuất phát điểm của doanh nghiệp có thể
sẽ là rất cao nếu như nó được xây dựng trên nền tảng văn hoá. Các doanh
nghiệp khi xây dựng đều phải có nhận thức và niềm tin triệt để, lúc đó văn
hoá sẽ xuất hiện. Mọi cải cách chỉ thực sự có tính thuyết phục khi nó tách
ra khỏi lợi ích cá nhân, c̣n văn hoá doanh nghiệp th́ phải bảo vệ cho mọi
quyền lợi và lợi ích của cá nhân.
Khi xây dựng văn hóa doanh nghiệp cần phải có những biện pháp cụ thể. Biện
pháp đầu tiên là phải xây dựng một hệ thống định chế của doanh nghiệp, bao
gồm: Chính danh, tự kiểm soát, phân tích các công việc, các yêu cầu. Sau đó
xây dựng các kênh thông tin; xây dựng các thể chế và thiết chế tập trung và
dân chủ như: Đa dạng hoá các loại h́nh đào tạo và phát triển nguồn nhân lực;
tiêu chuẩn hoá các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; xây dựng cơ chế kết hợp
hài hoà các lợi ích để doanh nghiệp trở thành ngôi nhà chung, là con thuyền
vận mệnh của mọi người.
*) Các hạt nhân văn hóa doanh nghiệp
Đây là cơ sở để h́nh thành văn hóa doanh nghiệp. Các hạt nhân văn hóa là kết
quả của sự tác động qua lại giữa các thành viên trong doanh nghiệp với nhau.
Khi doanh nghiệp bắt đầu hoạt động, nền văn hóa doanh nghiệp xuất hiện, phát
triển và tự bảo vệ. Văn hóa doanh nghiệp có tính đặc thù nên các hạt nhân
văn hóa được h́nh thành cũng có tính chất riêng biệt. Văn hóa của các tập
đoàn đa quốc gia khác với văn hóa của các doanh nghiệp liên doanh hoặc văn
hóa của doanh nghiệp gia đ́nh. Hạt nhân văn hóa doanh nghiệp bao gồm triết
lư, niềm tin, các chuẩn mực làm việc và hệ giá trị.
*) Phát triển văn hóa giao lưu của các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp thường có xu hướng liên doanh, liên kết với nhau. Để tồn
tại trong môi trường kinh doanh phức tạp, đa văn hóa, các doanh nghiệp không
thể duy tŕ văn hóa doanh nghiệp ḿnh giống như những lănh địa đóng kín của
mà phải mở cửa và phát triển giao lưu về văn hóa. Việc phát triển văn hóa
giao lưu sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp học tập, lựa chọn những khía
cạnh tốt về văn hóa của các doanh nghiệp khác nhằm phát triển mạnh nền văn
hóa của doanh nghiệp ḿnh và ngược lại.
*) Xây dựng các tiêu chuẩn về văn hóa doanh nghiệp
Để h́nh thành một nền văn hóa mạnh và có bản sắc riêng, hầu hết các doanh
nghiệp thường xây dựng cho ḿnh những tiêu chuẩn về văn hóa và buộc mọi
người khi vào làm việc cho doanh nghiệp phải tuân theo. Tuy nhiên, các tiêu
chuẩn này có thể thay đổi khi không c̣n phù hợp hoặc hiệu quả thấp. Trong
trường hợp như vậy, việc sáng tạo ra những tiêu chuẩn mới là cần thiết.
Trong điều kiện toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới và quá tŕnh cạnh tranh
quốc tế ngày càng gay gắt th́ văn hóa doanh nghiệp được chú trọng xây dựng
và phát triển. Nó trở thành một loại tài sản vô h́nh đóng vai tṛ cực kỳ
quan trọng trong kho tài sản doanh nghiệp và là một trong những công cụ cạnh
tranh khá sắc bén. Những doanh nghiệp không có nền văn hóa mạnh khó có thể
cạnh tranh cao trên thị trường. Đồng thời, doanh nghiệp có thể tạo ra và
tăng uy tín của ḿnh trên thị trường thông qua việc xây dựng và phát triển
một nền văn hóa doanh nghiệp mạnh.
*) Văn hóa tập đoàn đa quốc gia
Các tập đoàn đa quốc gia có nhiều chi nhánh hoạt động ở nhiều nước trên thế
giới, thường phải đối mặt với môi trường kinh doanh đa sắc tộc, đa quốc tịch
và đa văn hóa. Để tăng cường sức mạnh và sự liên kết giữa các chi nhánh của
các công ty đa quốc gia ở các nước khác nhau, các tập đoàn phải có một nền
văn hóa đủ mạnh. Hầu như tập đoàn đa quốc gia nào cũng có bản sắc văn hóa
riêng của ḿnh và đây được coi là một trong những điều kiện sống c̣n, một
loại vũ khí cạnh tranh lợi hại. Các công ty đa quốc gia có mục đích kinh
doanh chiến lược, nhăn hiệu hàng hóa nổi tiếng và danh tiếng cao về chất
lượng sản phẩm và dịch vụ trên thị trường thế giới. Những kết quả này có thể
coi là sản phẩm của quá tŕnh vận động của văn hóa tập đoàn. Tuy nhiên, để
đạt được những đỉnh cao của sự thành công đó, các tập đoàn phải mất nhiều
thời gian và tiền bạc. Chẳng hạn, để có nhăn hiệu Pepsi Cola nổi tiếng với
màu xanh tươi trẻ, Tập đoàn Pepsi phải chọn cách tiếp cận văn hóa phương
Đông - sản xuất loại đồ uống mang nhăn hiệu Pepsi Cola với biểu tượng thiếu
âm và thiếu dương (biểu tượng của những người theo Phật giáo) để đến với
khách hàng là những tín đồ của Phật giáo. Để bảo hộ cho biểu tượng này, Tập
đoàn phải chi tới 500 triệu USD và giá của nhăn hiệu Pepsi đă lên tới 55 tỷ
USD. Đối thủ cạnh tranh của Pepsi Cola là Tập đoàn Coca Cola. Tập đoàn này
có nền văn hóa hùng mạnh và với những ưu thế về danh tiếng, uy tín cũng như
nghệ thuật kinh doanh đă chiến thắng Pepsi Cola trên thương trường mặc dù đồ
uống Coca Cola chỉ được xếp thứ 7 trong số 12 loại đồ uống hàng đầu của nước
Mỹ về chất lượng và đồ uống này đă bị người tiêu dùng châu Âu tẩy chay vào
năm 1999.
*) Văn hóa doanh nghiệp gia đ́nh
Các doanh nghiệp gia đ́nh được xem là một loại định chế độc đáo trong đó một
gia đ́nh là hạt nhân của doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp gia đ́nh chịu
ảnh hưởng của truyền thống gia đ́nh, sự kế tục giữa các thế hệ và ḷng trung
thành với những triết lư kinh doanh, kinh nghiệm, bí quyết được gia đ́nh đúc
rút được trong quá tŕnh kinh doanh. Thông thường, trong gia đ́nh, người chủ
gia đ́nh thường nắm được bí quyết về một nghề nghiệp nào đó và dựa vào nghề
nghiệp đó để thành lập doanh nghiệp gia đ́nh. V́ thế, văn hóa doanh nghiệp
gia đ́nh chịu ảnh hưởng rất lớn tác động của phong cách lănh đạo của người
chủ gia đ́nh. Kỷ luật trong doanh nghiệp gia đ́nh thường được đề cao v́ họ
vừa là người chủ sở hữu vừa là người sử dụng các tài sản của gia đ́nh. Chẳng
hạn, doanh nghiệp sản xuất giày dép Biti’s (Việt Nam) là một biến thể của
doanh nghiệp gia đ́nh. Doanh nghiệp này có một nền văn hóa mạnh và các thành
viên của doanh nghiệp đều thấm nhuần được những giá trị và chuẩn mực của văn
hóa doanh nghiệp. Doanh nghiệp này đang có triển vọng trở thành một trong
những công ty đa quốc gia đầu tiên của Việt Nam.
Có thể nói, Văn hoá doanh nghiệp là nhằm tạo ra quy tắc ứng xử cho doanh
nghiệp mà không phải tạo ra tác dụng chỉ đạo. Cách làm này của các doanh
nghiệp không chỉ có tác dụng thúc đẩy cho doanh nghiệp ḿnh thực hiện được
phương thức kinh doanh "lấy con người làm trung tâm", mà c̣n làm cho năng
lực phát triển sản phẩm và năng lực đoàn kết hiệp đồng tập thể của doanh
nghiệp trở nên phồn vinh, tăng thêm sự gắn bó của nhân viên với doanh
nghiêp, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Theo: CNDN/DNDN
|
|
Làm thế nào để xây
dựng Văn hóa doanh nghiệp?
Trên các phương tiện truyền thông, người ta đă nói nhiều tới gia đ́nh văn
hóa, bảo vệ ǵn giữ nền văn hóa dân tộc nhưng với một doanh nghiệp, tế bào
của nền kinh tế th́ chưa mấy ai nói đến Văn hóa doanh nghiệp. Vậy, có cần
xây dựng và bảo vệ một môi trường văn hóa riêng gọi là ''Văn hóa doanh
nghiệp'' không? Cách xây dựng văn hóa doanh nghiệp thế nào? Sau đây là bài
viết của một doanh nhân đang công tác tại Đài Loan về chủ đề trên.
Bằng thực tế đi làm việc hơn mười năm qua ở các doanh nghiệp trong nước và
hơn hai tháng nay làm việc cho một doanh nghiệp của Đài Loan tại đất nước
của họ, tôi muốn chia sẻ với các bạn: Việc phần lớn các doanh nghiệp trẻ của
chúng ta, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân chưa chú ư tới việc xây dựng một
nền văn hóa đặc thù cho doanh nghiệp ḿnh là cực kỳ nguy hiểm.
Một quốc gia không thể tồn tại và phát triển nếu không bảo tồn, ǵn giữ được
nền văn hóa truyền thống của ḿnh. Một gia đ́nh sẽ không thể đầm ấm sum vầy
và đóng góp tích cực cho xă hội nếu không có gia phong, gia giáo. Cũng như
vậy một doanh nghiệp sẽ không thể có một sự nghiệp lâu dài, bền vững nếu
không có một nền văn hóa đặc thù hoặc tệ hơn, môi trường văn hóa của doanh
nghiệp lại là một bầu không khí căng thẳng ức chế hoặc đầy rẫy bất công.
Khi vừa rời ghế nhà trường, tôi làm việc cho doanh nghiêp C, một công ty tư
nhân tương đối thành đạt trong lĩnh vực tin học. Giám đốc Công ty là người
rất có văn hóa, lời nói và hành động của anh luôn gây được thiện cảm cho rất
nhiều người: Khách hàng, đối tác, bạn hàng, thậm chí cả đối thủ cạnh tranh.
Chính nhân cách, hành vi của anh đă ảnh huởng lớn tới nhân viên trong Công
ty. Tôi là nhân viên mới, được làm việc trong một môi trường có văn hóa như
thế theo tôi là rất may mắn. Tôi tự cảm thấy ḿnh trưởng thành nhanh, tự tin
hơn và mong muốn gắn bó lâu dài với sự nghiệp của Công ty.
Tuy nhiên rất tiếc, môi trường văn hóa quư báu đó lại h́nh thành một cách tự
phát và mất đi dễ dàng khi quy mô Công ty thay đổi. Trong khi mọi hoạt động
liên quan tới kinh doanh của Công ty được coi trọng th́ hoạt động nhân sự
của tập đoàn bao gồm hai trăm con người trẻ tuổi năng động lại được giao cho
một và chỉ một người lớn tuổi nguyên là cán bộ cơ quan nhà nước đă nghỉ hưu.
Điều quan trọng là tác phong nếp nghĩ cách làm của người phụ trách nhân sự
đă không có sức thuyết phục cộng với việc ông này cũng không hề có thực
quyền. Thành ra lời nói việc làm của ông có rất ít trọng lượng với cả sếp và
nhân viên trong Công ty.
Lúc này ánh hào quang của “Người cầm lái vĩ đại” là giám đốc công ty không
đủ sức lan tỏa tới các nhân viên nữa. Anh đă tự giam ḿnh trong văn pḥng uy
nghi của giám đốc, chỉ một số ít trưởng bộ phận là có dịp tiếp xúc. Các hoạt
động sinh hoạt tập thể trong Công ty nếu có cũng chỉ dừng lại ở mức độ copy
một vài hoạt động lẻ tẻ của công ty nhà nước. Cùng với sự chuyên môn hóa cao
trong Công ty là sự khép kín phân ră của tinh thần nhân viên. Bên cạnh đó,
một vài người xấu bắt đầu tụ tập thành nhóm, một vài người liên tục có nhưng
hành vi thô tục, đàn áp tinh thần nhân viên trong Công ty nhưng không ai
đụng tới v́ là người nhà sếp. Một vài sự cất nhắc những kẻ nịnh bợ đă làm
cho tinh thần nhân viên hết sức chán nản.
Tuổi đời chưa chín chắn, ham muốn t́m hiểu học hỏi của tuổi trẻ thôi thúc đă
khiến tôi quyết định rời bỏ Công ty sau 5 năm phục vụ gắn bó. Cho đến bây
giờ h́nh như tại Công ty cũ của tôi (mà thực ḷng tôi rất yêu quư) vấn đề
văn hóa doanh nghiệp vẫn c̣n nhiều bất cập. Sau vài ba năm có dịp quay lại
Công ty của ḿnh thật không dễ cho tôi nếu muốn t́m ra bạn cũ, bởi những
người cũ đă không c̣n ở lại. Tôi có cảm nhận mặc dù Công ty đă rất trưởng
thành nhiều mặt nhưng thực ra nó vẫn là một doanh nghiệp trẻ v́ xung quanh
tôi toàn là các gương mặt trẻ: Có người th́ tỏ ra quá hăm hở, có người th́
ngơ ngác.
Tôi tin rằng rất nhiều, rất nhiều đồng nghiệp cũ của tôi đă ra đi với cùng
lư do và cảm giác của tôi. Rất tiếc tôi chưa có dịp nào thuận tiện để gặp
lại, nói chuyện thẳng thắn với xếp cũ của ḿnh. Ngay cả lúc tôi xin nghỉ
việc anh cũng quá bận để tôi có thể đến chào. Chỉ có một cuộc nói chuyện
ngắn với người phụ trách trực tiếp sau khi tôi đă đề nghị thôi việc trước
một tháng bàn giao công việc, thu hồi công nợ và tự tổ chức một buổi liên
hoan nhỏ với các đồng nghiệp. Tôi rời Công ty với tâm trạng trĩu nặng của
một kẻ thất bại. Nạn nhân của vấn đề Văn hóa doanh nghiệp.
Rời Công ty C, tôi làm việc cho một văn pḥng nước ngoài tại Hà nội. Mặc dù
hoạt động kinh doanh ở văn pḥng này thời điểm đó rất sa sút nhưng môi
trường văn hóa th́ lại rất tuỵệt vời (theo cảm nhận của tôi lúc đó). Có một
sự thật khách quan là văn pḥng chỉ có ít người và tŕnh độ văn hóa lại khá
đồng đều, tất cả đều có một hai bằng đại học. Tuy nhiên sếp tôi lúc đó cũng
không hề coi nhẹ vấn đề Văn hóa doanh nghiệp. Chỉ có khoảng trên dưới 10
người nhưng có một người phụ trách vấn đề nhân sự, kiêm thêm một vài công
việc nhẹ nhàng khác. Hàng tuần đều có các buổi gặp gỡ truyện tṛ trao đổi
với nhân viên về công việc, chia sẻ kinh nghiệm và hướng dẫn các kỹ năng cần
thiết.
Tôi đă cảm thấy như ḿnh được đổi mới và hăng hái làm việc. Mặc dù sau đó
lănh đạo văn pḥng thay đổi. Sếp mới đă tiến hành rất nhiều cải cách, kể cả
thắt chặt chi tiêu. Hiện nay, văn pḥng đó vẫn tiếp tục hoạt động, nhiều
người vẫn gắn bó từ ngày đầu thành lập. Và tôi vẫn rất được vui vẻ chào đón
khi quay lại văn pḥng.
Đầu năm 2001, một người bạn lớn tuổi đă đầu tư vốn để tôi có thể xây dựng
một cửa hàng kinh doanh thiết bị tin học theo đề án mà tôi đă lập (tất nhiên
có tham khảo ư kiến của anh). Tôi đă đón nhận và hăm hở lao vào công việc
với tham vọng xây dựng một công ty kinh doanh thành đạt và có một môi trường
văn hóa tốt như tôi hằng trông đợi khi c̣n là một nhân viên.
Ngay từ ngày mới thành lập cửa hàng, tôi đă đánh giá nhân viên theo hai tiêu
chí: Năng lực làm việc và tư cách cá nhân. Thậm chí tôi coi trọng vấn đề tư
cách cá nhân hơn. Theo tôi, mọi người về mặt trí lực chỉ hơn kém nhau rất ít.
Điều quan trọng là anh ta lớn lên trong môi trường nào và rèn luyện ḿnh
theo hướng nào thôi. Sau hai năm phấn đấu chúng tôi đă có nhưng thành công
nhất định và không ít thất bại.
Về thành công: Chúng tôi đă xây dựng được một bộ khung nhân sự cho một công
ty cỡ nhỏ. Có những nhân viên trẻ, được đào tạo cơ bản gắn bó lâu dài với sự
nghiệp của Công ty. Có những nhân viên đă từ chối những công việc với mức
lương cao hơn để quay về làm việc với đồng nghiệp cũ. Tới tháng năm vừa rồi,
do điều kiện riêng tôi muốn ra nước ngoài làm việc học tập kinh nghiệm trong
một thời gian dài có thể từ 3 tới 5 năm. Tôi đă có thể bàn giao lại Công ty
cho các cộng sự của ḿnh mà không cần đưa người nhà, bạn bè thân hoặc họ
hàng vào để nắm Công ty. Tất nhiên, trong t́nh huống mới này, các đối tác
đầu tư của tôi sẽ tăng cường giúp đỡ người lănh đạo mới của Công ty – Một cô
gái tốt nghiệp đại học có số năm kinh nghiệm làm việc đúng bằng tuổi đời của
Công ty.
Về thất bại: Trong quá tŕnh phát triển cửa hàng, tôi đă để mất một số nhân
viên theo tôi là có triển vọng. Tệ hại hơn, một số người tuy có năng lực
nhưng tính cách không ḥa hợp được với môi trường Công ty, khi đă thôi việc
không giữ được quan hệ b́nh thuờng mà có những lời nói hành động làm tổn hại
tới Công ty cũ nơi anh ta đă từng gắn bó xây dựng. Tôi cho rằng đây có thể
là thất bại do ḿnh đă cực đoan trong việc xây dựng văn hóa Công ty. Thú
thật với các bạn, hai năm làm sếp, tôi đă thông cảm hơn nhiều những khó khăn
mà các sếp cũ của tôi gặp phải khi xưa!
Tại sao chúng ta chưa có Văn hoá doanh nghiệp hoàn thiện?
Để bài viết có tính tổng quát hơn, tôi xin phân tích một số nguyên nhân
khách quan dẫn tới t́nh trạng nền văn hóa Doanh nghiệp trong các Công ty tư
nhân hiện nay c̣n yếu hoặc chưa hoàn thiện:
1/ Văn hóa doanh nghiệp, không thể tách rời văn hóa của cộng đồng xă hội v́
các thành viên của các doanh nghiệp cũng đồng thời là các thành viên của gia
đ́nh và xă hội. Theo tôi, xă hội ta c̣n nhiều bất cập.
Một trong những bất cập đó là chất lượng của hệ thống giáo dục. Sản phẩm của
hệ thống giáo dục là các kỹ sư, cử nhân, công nhân lành nghề mới ra trường.
Phần đông họ rất thiếu kiến thức xă hội. Ư thức cộng đồng doanh nghiệp của
rất nhiều trong số họ dưới điểm trung b́nh! Họ có thể rất quan tâm tới bản
thân, bạn bè, gia đ́nh, thậm chí những vấn đề lớn của quốc gia, thế giới
nhưng lại thờ ơ với hoặc không biết cách thể hiện sự quan tâm với sự sống
c̣n, tồn tại hay không tồn tại, hiệu quả hay lăng phí của cái cộng đồng mà
họ gắn bó suốt tám tiếng quư giá nhất của một ngày.
Tôi nghĩ điều đó thật phi lư. Hệ quả của nó là nhiều master, kỹ sư cử nhân
lại làm việc kém hơn các nhân viên có bằng cấp thấp nhưng nhiệt t́nh trong
công việc. Điều này giải thích tại sao có một số lượng lớn các Kỹ sư cử nhân
thất nghiệp trong xă hội ta hiện nay.
2/ Xă hội chưa quan tâm tới việc hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc xây dựng
nền văn hóa của họ. Phần nhiều nếu có quan tâm th́ đều mày ṃ học hỏi của
nhau. Các hiệp hội nếu có hoạt động theo kiểu h́nh thức. Các cơ quan quản lư
nhà nước quan tâm tới doanh nghiệp ở khía cạnh t́m hiểu xem họ có trốn thuế
không? Có buôn lậu không ?
Theo tôi hiểu chưa có cơ quan nào quan tâm tới việc hỗ trợ hoạt động của các
doanh nghiệp hoặc nếu có, sự hỗ trợ của họ quá vĩ mô tới mức trong xuốt hai
năm vận hành tổ chức kinh tế bé nhỏ của ḿnh tôi chỉ được một đại diện nhà
nước duy nhất quan tâm là chú phụ trách thuế của Chi cục thuế quận nhưng
được phân công về phường nơi tôi kinh doanh. Bên cạnh đó các công ty trong
nước lại cạnh tranh với nhau quá khốc liệt kể cả bằng tiểu xảo và giành giật
nhân viên của nhau. Điều đó tạo cho người lao động trong các doanh nghiệp
nhỏ một tâm lư cực kỳ bất ổn.
Các doanh nghiệp tư nhân của Việt nam hầu như không coi trọng thư tiến cử,
giới thiệu của doanh nghiệp cũ nơi người lao động làm việc trước khi nộp đơn
vào chỗ ḿnh. Mặc dù khi phỏng vấn mỗi ứng cử viên đều nghĩ ra những lư do
rất hay ho cho việc bỏ việc ở công ty cũ. Các cơ quan nhà nước cũng không
coi loại giấy tờ này như một chứng chỉ có giá trị. Tập quán này tạo cho
những nhân viên không được giáo dục tốt một tâm lư coi thường người lănh đạo
cũng như doanh nghiệp mà ḿnh làm việc. Những phần tử như thế sẽ là lực cản
rất lớn trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp.
Ở Đài Loan, nếu bạn đi xin việc và muốn được công nhận là có kinh nghiệm làm
việc (với vị trí và mức lương tương ứng) bạn sẽ phải có Chứng chỉ nghề
nghiệp và ''Thư tiến cử'' do cơ quan cũ của bạn cấp. Đặc biệt như trường hợp
của tôi là người nước ngoài, sở ngoại vụ bên này c̣n yêu cầu các giấy tờ đó
phải được Cục lănh sự nhà nước ḿnh và Văn pḥng Văn hóa Kinh tế Đài Bắc tại
Hà Nội xác nhận.
Tôi đă không thể xin được xác nhận của Cục lănh sự v́ các công ty tôi làm
việc đều là công ty tư nhân! Rất may cho tôi lúc tưởng như không c̣n cách
nào th́ tôi nhớ đến cuốn sổ bảo hiểm xă hội và nhờ nó kẹp cùng với các thư
tiến cử tôi đang ngồi viết những ḍng này từ Công ty Pretech.
Nếu hệ thống công quyền và các công ty của chúng ta coi trọng việc nhận xét
hồ sơ cá nhân của các Công ty tư nhân tôi tin rằng t́nh h́nh chất lượng lao
động, ư thức người lao động sẽ được cải thiện rất nhiều và sẽ thuận lợi rất
nhiều cho các giám đốc coi trọng vấn đề Văn hóa doanh nghiệp.
3/ Bản thân các giám đốc phải là những người coi trọng việc xây dựng văn hóa
doanh nghiệp. Những người vận hành doanh nghiệp nên được hỗ trợ, đào tạo để
có được một phương hướng đúng dắn khi xây dựng doanh nghiệp của ḿnh. Tôi
được biết có giám đốc muốn tạo ra sự thân t́nh với nhân viên đă phải dành
quỹ thời gian trong ngày để đánh phỏm với nhân viên. Than ôi, một nền văn
hóa doanh nghiệp quá đặc thù! Cần có sự định hướng cho các giám đốc để họ
nhận thức đúng đắn vấn đề văn hóa doanh nghiệp để họ xây dựng những môi
trường văn hóa đặc thù của doanh nghiệp nhưng không xa lạ với cộng đồng xă
hội.
4/ Cần phải tuyên truyền sâu rộng về văn hóa doanh nghiệp. Người Việt Nam đă
rất đoàn kết gắn bó trong đấu tranh chống lại sự nô dịch, xâm lấn của các
thế lực ngoại bang nhưng truyền thống đó dường như mờ đi trong thời kỳ mở
cửa. Cần có sự tuyên truyền giáo dục để khôi phục lại.
Ngay trong gia đ́nh, nhà trường các em học sinh đă cần được giáo dục để họ
hiểu rằng không thể sống tách rời cộng đồng. Bên cạnh xă hội rộng lớn và môi
trường gia đ́nh thân thương họ phải biết tôn trọng cộng đồng nhỏ nơi họ sẽ
làm việc là các Công sở hoặc doanh nghiệp. Các bậc làm cha mẹ không nên đem
các câu chuyện bực ḿnh nơi công sở về nhà kể cho con cái nghe khi họ chưa
đủ trưởng thành. Đừng để những bức xúc với đồng nghiệp, xếp, công việc,
khách hàng ảnh huởng tới tâm hồn non nớt của các em để rồi các em sẽ lớn lên
với những tư duy lệch lạc trong đầu.
Đất nước ta rồi sẽ phát triển, các công ty, doanh nghiệp tư nhân sẽ xuất
hiện ngày càng nhiều hơn tham gia ngày càng tích cực hơn vào xây dựng nền
kinh tế của đất nước. Để tăng cường tính cạnh tranh trên sân nhà, thiết nghĩ
các cơ quan hữu quan và bản thân các doanh nghiệp nên quan tâm nhiều hơn đến
sự phát triển bền vững mà theo tôi một trong những bí quyết đó là xây dựng
thành công mô h́nh văn hóa doanh nghiệp đặc thù Việt nam trong mỗi doanh
nghiệp. Để môi trường văn hóa đó tự nó sẽ có sức cảm hóa, động viên sự nỗ
lực của các doanh nghiêp. Chúc các bạn thành công.
Theo: CNDN
|
Trích: Tài liệu tập huấn nội bộ (tháng 07 năm 2006)
|
|
|
Đầu trang |
Trang trước
|
| | |
| | |
| |
| |